Những câu thơ hay bằng tiếng Trung Ý Nghĩa

Những câu thơ hay bằng tiếng Trung tuy ngắn gọn nhưng lại hàm chứa rất nhiều ý nghĩa thâm sâu trong đó. Thơ ca ở Trung Quốc được phát triển rất sớm, hiện nay vẫn còn lưu truyền lại rất nhiều những tác phẩm hay và kinh điển. Nhắc đến thơ ca thì không thể không thể không kể đến đất nước Trung Quốc. Dưới đây là một số thơ hay Trung Quốc mà trung tâm Hoa ngữ Tầm Nhìn Việt muốn giới thiệu đến bạn.

Nội dung chính:
1. Top 8 bài thơ hay về tình yêu bằng tiếng Trung
2. Thơ Trung Quốc ý nghĩa hay về cuộc sống
3. Tổng hợp bài thơ nổi tiếng, tiêu biểu Trung Quốc
4. Những câu thơ đối hay bằng tiếng Trung

Những bài thơ, câu thơ hay bằng tiếng Trung
Các bài thơ nổi tiếng bằng tiếng Trung

Top 8 bài thơ hay về tình yêu bằng tiếng Trung

Tình yêu là chủ đề muôn thưở trong thơ ca, những nhà thơ tuyển đỉnh trong công cuộc sáng tác thơ ca thể hiện tình cảm đều có ở bất kì quốc gia nào đặc biệt ở Trung Quốc.

1. 断章 (Duànzhāng) / Đoạn Chương (Tạm dịch: Bài thơ nhỏ)

Đoạn Chương là bài thơ diễn tả trạng thái mất mát không thể nói nên lời trong trái tim con người, và cảm xúc nội tâm độc đáo này thường có thể chạm đến phần mềm yếu nhất của trái tim con người.

Tác giả: Biện Chi Lâm (卞之琳 – Biàn Zhī Lín), nhà thơ hiện đại.

Tác phẩm:

你站在桥上看风景,
Nǐ zhàn zài qiáo shàng kàn fēngjǐng,
看风景人在楼上看你。
Kàn fēngjǐng rén zài lóu shàng kàn nǐ.
明月装饰了你的窗子,
Míngyuè zhuāngshìle nǐ de chuāngzi,
你装饰了别人的梦。
Nǐ zhuāngshìle biérén de mèng.

Dịch nghĩa:

Em đứng ở trên cầu ngắm phong cảnh,
Người đứng trên lầu ngắm phong cảnh lại ngắm nhìn em.
Trăng sáng tô điểm cửa sổ phòng em,
Em tô điểm giấc mộng của người.

Dịch thơ:

Em đứng trên cầu ngắm cảnh,
Người ngắm cảnh trên cầu lại ngắm em.
Ánh trăng điểm tô cửa sổ phòng em,
Giấc mộng ai kia lại được em tô điểm.
(Nguồn: 108 bài thơ tình Trung Hoa (dịch), NXB Thuận Hóa, 1996)

2. 秋风词 (Qiūfēng cí) / Thu Phong Từ

Thu Phong Từ là một mùa thu buồn trong tình cảnh này khiến nhà thơ buồn bã, bơ vơ – Không muốn tách rời và nỗi nhớ mong trong lòng khiến nhà thơ tiếc nuối buổi đầu quen biết. 

Tác giả: Lý Bạch (李白 – Lǐ Bái), thời Thịnh Đường.

Tác phẩm:

秋风清,
Qiūfēng qīng,
秋月明。
Qiūyuè míng.
落叶聚还散,
Luòyè jù hái sàn,
寒鸦栖复惊。
Hán yā qī fù jīng.
相思相见知何日?
Xiāngsī xiāng jiàn zhī hé rì?
此时此夜难为情。
Cǐ shí cǐ yè nánwéiqíng.

Hán Việt:

Thu phong thanh,
Thu nguyệt minh.
Lạc diệp tụ hoàn tán,
Hàn nha thê phục kinh.
Tương tư, tương kiến tri hà nhật?
Thử thì thử dạ nan vi tình.

Dịch nghĩa:

Gió thu thanh,
Trăng thu sáng.
Lá rụng lúc tụ lúc tán,
Quạ lạnh đang đậu bỗng rùng mình.
Nhớ nhau không biết ngày nào gặp?
Lúc ấy đêm ấy chan chứa tình.

Dịch thơ:

Gió thu lành,
Trăng thu thanh.
Lá rơi tụ lại tán,
Quạ lạnh chợt rùng mình.
Thương nhớ, biết bao giờ mới gặp ?
Lúc này đêm ấy ngẩn ngơ tình.
(Nguồn: Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hóa, 1997)

3. 卜算子 (Bosuànzi) / Bốc Toán Tử

Bốc Toán Tử là bài thơ nói về chuyện tình một đôi nam nữ, tình yêu thương vô bờ bến, cùng uống chung nước một dòng sông.

Tác giả: Lý Chi Nghi (李之儀 – Lǐ Zhī Yí)

Tác phẩm:

我住长江头,
Wǒ zhù chángjiāng tóu,
君住长江尾。
Jūn zhù chángjiāng wěi.
日日思君不见君,
Rì rì sī jūn bùjiàn jūn,
共饮长江水。
Gòng yǐn chángjiāng shuǐ.

此水几时休?
Cǐ shuǐ jǐshí xiū?
此恨何时已?
Cǐ hèn héshí yǐ?
只愿君心似我心,
Zhǐ yuàn jūn xīn sì wǒ xīn,
定不负相思意。
Dìng bù fù xiāngsī yì.

Hán Việt:

Ngã trú Trường Giang đầu,
Quân trú Trường Giang vĩ.
Nhật nhật tư quân bất kiến quân,
Cộng ẩm Trường Giang thủy.

Thử thủy kỷ thời hưu?
Thử hận hà thời dĩ?
Chỉ nguyện quân tâm tự ngã tâm,
Định bất phụ tương tư ý.

Dịch nghĩa:

Thiếp ở đầu Trường Giang,
Chàng ở cuối Trường Giang.
Ngày ngày nhớ chàng chẳng thấy chàng,
Cùng uống nước Trường Giang.

Dòng sông này bao giờ ngừng trôi?
Nỗi hận này bao giờ hết?
Chỉ mong lòng chàng như lòng thiếp,
Nhất định không phụ nỗi niềm nhớ nhau.

Dịch thơ:

Nhà thiếp ở đầu sông,
Nhà chàng ở phía cuối.
Dòng nước Trường Giang cùng uống chung,
Vắng chàng mong sớm tối.

Nước nọ mấy khi ngừng,
Hận này bao thuở vợi.
Những mong ý thiếp giống lòng chàng,
Mối tình quyết không thay đổi.
(Nguồn: Tống từ, Nguyễn Xuân Tảo, NXB Văn học, 1999)

4. 白头吟 (Bái tóu yín) / Bạch Đầu Ngâm (Tạm dịch: Khúc ngâm đầu bạc)

Bài thơ này là một mốt tình buồn giữa Tư Mã Tương Như và Trác Văn Quân thời Tây Hán. Một chuyện tình vượt qua bao rào cản nhưng lại có cái kết cục thảm khốc đến bi thương.

Thơ Bạch Đầu Ngâm tiếng Trung
Thơ hay tiếng Trung

Tác giả: Trác Văn Quân (卓文君 – Zhuō Wén Jūn), thời Tây Hán.

Tác phẩm:

皑如山上雪,
Ái rúshān shàng xuě,
皎若云间月。
Jiǎo ruò yún jiān yuè.
闻君有两意,
Wén jūn yǒu liǎng yì,
故来相决绝。
Gù lái xiāng jué jué.
今日斗酒会,
Jīnrì dǒujiǔ huì,
明旦沟水头。
Míng dàn gōu shuǐtóu.
躞蹀御沟上,
Xiè dié yù gōu shàng,
沟水东西流。
Gōu shuǐ dōngxī liú.

Hán Việt:

Ngai như sơn thượng tuyết,
Kiểu nhược vân gian nguyệt.
Văn quân hữu lưỡng ý,
Cố lai tương quyết tuyệt.
Kim nhật đấu tửu hội,
Minh đán câu thủy đầu.
Tiệp điệp ngự câu thượng,
Câu thủy đông tây lưu.

Dịch nghĩa:

Trắng như tuyết trên núi,
Sáng như trăng ở trong mây.
Nghe lòng chàng có hai ý,
Nên thiếp quyết cắt đứt.
Ngày hôm nay nâng chén sum vầy,
Sớm mai đã đưa tiễn nhau ở bên sông.
Đi lững thững trên dòng nước,
Nước cứ chảy xuôi mãi từ đông về tây (mà không quay về).

Dịch thơ:

Trắng như tuyết trên núi,
Sáng tựa trăng giữa mây.
Nghe lòng chàng hai ý,
Thiếp đành đoạn tình này.
Hôm nay chén sum họp,
Đầu sông tiễn sớm mai.
Lững thững theo dòng nước,
Nước mãi chảy đông tây.
(Nguồn: Thivien.net)

5. 玉楼春-春恨 (Yùlóu chūn – chūn hèn) / Ngọc Lâu Xuân – Xuân Hận

Bài thơ là nỗi niềm nhớ thương cuộc đời, nỗi đau chia tay của tác giả trước sự vô thường, ngắn ngủi của cuộc đời sau lễ Vu Lan báo hiếu. Bài thơ chất chứa sự chân thành về cuộc sống.

Tác giả: Án Thù (晏殊 – Yàn Shū).

Tác phẩm:

绿杨芳草长亭路,
Lǜ yáng fāng cǎo chángtíng lù,
年少抛人容易去。
Niánshào pāo rén róngyì qù.
楼头残梦五更钟,
Lóu tóu cán mèng wǔ gēng zhōng,
花底离愁三月雨。
Huā dǐ líchóu sān yuè yǔ.

无情不似多情苦,
Wúqíng bù shì duōqíng kǔ,
一寸还成千万缕。
Yīcùn hái chéng qiān wàn lǚ.
天涯地角有穷时,
Tiānyá de jiǎo yǒu qióng shí,
只有相思无尽处。
Zhǐyǒu xiāngsī wújìn chù.

Hán Việt:

Lục dương phương thảo trường đình lộ,
Niên thiếu phao nhân dung dị khứ.
Lâu đầu tàn mộng ngũ canh chung,
Hoa để ly sầu tam nguyệt vũ.

Vô tình bất tự đa tình khổ,
Nhất thốn hoàn thành thiên vạn lũ.
Thiên nhai địa giác hữu cùng thì,
Chỉ hữu tương tư vô tận xứ.

Dịch nghĩa:

Lục dương phương thảo trường đình lộ,
Niên thiếu phao nhân dung dị khứ.
Lâu đầu tàn mộng ngũ canh chung,
Hoa để ly sầu tam nguyệt vũ.

Vô tình bất tự đa tình khổ,
Nhất thốn hoàn thành thiên vạn lũ.
Thiên nhai địa giác hữu cùng thì,
Chỉ hữu tương tư vô tận xứ.

Dịch thơ:

Liễu xanh cỏ ngát hương ngoài lộ,
Tuổi trẻ ra đi đâu có khó.
Trên lầu trằn trọc suốt năm canh,
Ly biệt tháng ba hoa ướt rũ.

Vô tình nào khổ tựa đa tình,
Một tấc tơ lòng muôn vạn mớ.
Chân trời mặt đất còn chia ngăn,
Chỉ có nhớ nhau không hạn chỗ.
(Nguồn: Bản dịch của dịch giả Nguyễn Đương Tịnh)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Những câu thành ngữ tiếng Trung hay nhất

6. 相思 (Xiāngsī) / Tương Tư

Tương Tư là bài thơ sáng tác trong bối cảnh thời gian nhà Đường nói về tình yêu với ngôn ngữ giản dị, những câu hỏi tự nhiên mà chất chứa bao niềm thầm thương chộm nhớ.

Tác giả: Vương Duy (王维 – Wáng Wéi), thời Đường.

Tác phẩm:

红豆生南国,
Hóng dòu shēng nán guó,
春来发几枝?
Chūn lái fā jǐ zhī?
愿君多采撷,
Yuàn jūn duō cǎi xié,
此物最相思!
Cǐ wù zuì xiāng sī!

Hán Việt:

Hồng đậu sinh nam quốc,
Xuân lai phát kỷ chi.
Nguyện quân đa thái hiệt,
Thử vật tối tương tư.

Dịch thơ:

Nước nam sinh đậu đỏ,
Xuân về nở cành xinh.
Chàng ơi hái nhiều nhé,
Nhớ nhau tha thiết tình!
(Người dịch: Hải Đà)

7. 红豆词 (Hóng dòu cí) / Hồng Đậu Từ

Toàn bài thơ là những cung bậc cảm xúc buồn xen lẫn bất lực và xót xa. Những nỗi buồn mới và cũ ập đến như cơn bão dữ dội và tàn nhẫn. Hiện lên hình ảnh những đứa trẻ đáng thương, những người bị bệnh tương tư không màng đến việc ăn uống.

Tác giả: Tào Tuyết Cần (曹雪芹 – Cáo Xuě Qín), thời Thanh.

Tác phẩm:

滴不尽相思血泪抛红豆
Dī bù jìn xiāng sī xuè lèi pāo hóng dòu
开不完春柳春花满画楼
Kāi bù wán chūn liǔ chūn huā mǎn huà lóu
睡不稳纱窗风雨黄昏后
Shuì bù wěn shā chuāng fēng yǔ huáng hūn hòu
忘不了新愁与旧愁
Wàng bù liǎo xīn chóu yǔ jiù chóu
咽不下玉粒金波噎满喉
Yàn bù xià yù lì jīn bō yē mǎn hóu
瞧不尽镜里花容瘦
Qiáo bù jìn jìng lǐ huā róng shòu
展不开的眉头挨不明的更漏
Zhǎn bù kāi de méi tóu āi bù míng de gèng lòu
呀!
Ya!
恰便似遮不住的青山隐隐
Qià biàn shì zhē bù zhù de qīng shān yǐn yǐn
流不断的绿水悠悠。
Liú bù duàn de lǜ shuǐ yōu yōu.

Hán Việt:

Trích bất tận, tương tư huyết lệ phao hồng đậu
Khai bất hoàn, xuân liễu xuân hoa mãn hoạch lâu
Thụy bất ổn, sa song phong vũ hoàng hôn hậu
Vong bất liễu, tân sầu dữ cựu sầu
Yến bất há, ngọc lạp kim ba ế mãn hầu
Chiếu bất tận, lăng hoa kính lý hình dung sấu
Triển bất khai để mi đầuNhai bất minh để canh lậu
Nha!
Kháp tiện tự: Già bất trú để thanh sơn ẩn ẩn
Lưu bất đoạn để lục thủy du du.

Dịch nghĩa:

Nhỏ không dứt, dòng huyết lệ tương tư rơi xuống như những hạt đậu đỏ
Nở không trọn, liễu xuân, hoa xuân khắp chốn lầu son
Ngủ không yên, mưa gió bên ngoài màn song sau buổi hoàng hôn
Quên chẳng được, sầu mới lẫn sầu cũ
Nuốt chẳng trôi, những gạo ngọc miệng vàng nghẹn đầy cổ họng
Soi chẳng hết, hình dung gầy võ trong gương hoa ấu
Đầu mày giương chẳng mở
Canh khuya cứ lần nữa không sáng
A!
Vừa đúng như: Non xanh thấp thoáng không ngăn lại được
Nước biếc mênh mang trôi đi không ngừng.

Dịch thơ:

Còn chảy mãi lệ tương tư thẫm đỏ
Hoa, liễu buồn thôi nở chốn lầu son,
Không yên giấc, mưa gió ngoài song cửa
Sầu với sầu, tìm đến cuối hoàng hôn
Nuốt chẳng trôi, những lời vàng tiếng ngọc
Gương sáng soi khuôn mặt đã hao gầy
Mày chau lại, mong canh thâu chóng hết
Chao ôi!
Non xanh thấp thoáng không ngăn được
Nước biếc mênh mông trôi chẳng dừng.
(Lạc Nhạn dịch)

8. 相思曲 (Xiāngsī qū) / Tương Tư Khúc

Tương Tư Khúc là một bài thơ diễn tả cuộc sống ẩn sĩ nhàn nhã của tác giả, ngoài ra còn phản ánh những khó khăn cuộc sống nhân dân thời gian nhà Đường.

Tác giả: Đới Thúc Luân (戴叔伦 – Dài Shū Lún), thời Đường.

Tác phẩm:

高楼重重闭明月,
Gāo lóu chóng chóng bì míng yuè,
肠断仙郎隔年别。
Cháng duàn xiān láng gé nián bié.
紫萧横笛寂无声,
Zǐ xiāo héng dí jì wú shēng,
独向瑶窗坐愁绝。
Dú xiàng yáo chuāng zuò chóu jué.
鱼沉雁杳天涯路,
Yú chén yàn yǎo tiān yá lù,
始信人间别离苦。
Shǐ xìn rén jiān bié lí kǔ.
恨满牙床翡翠衾,
Hèn mǎn yá chuáng fěi cuì qīn,
怨折金钗凤凰股。
Yuàn zhé jīn chāi fèng huáng gǔ.
井深辘轳嗟绠短,
Jǐng shēn lù lú jiē gěng duǎn,
衣带相思日应缓。
Yī dài xiāng sī rì yīng huǎn.
将刀斫水水复连,
Jiāng dāo zhuó shuǐ shuǐ fù lián,
挥刃割情情不断。
Huī rèn gē qíng qíng bù duàn.
落红乱逐东流水,
Luò hóng luàn zhú dōng liú shuǐ,
一点芳心为君死。
Yī diǎn fāng xīn wèi jūn sǐ.
妾身愿作巫山云,
Qiè shēn yuàn zuò wū shān yún,
飞入仙郎梦魂里。
Fēi rù xiān láng mèng hún lǐ.

Hán Việt:

Cao lâu trùng trùng bế minh nguyệt,
Trường đoạn tiên lang cách niên biệt.
Tử tiêu hoành địch tịch vô thanh,
Độc hướng dao song toa sầu tuyệt.
Ngư trầm nhạn diểu thiên nhai lộ,
Thủy tín nhân gian biệt ly khổ.
Hận mãn nha sàng phí thúy khâm,
Oán chiết kim thoa phụng hoàng cổ.
Tỉnh thâm lộc lư ta cảnh đoản,
Y đới tương tư nhật ưng hoãn.
Tương đao phá thủy thủy phục liên,
Huy nhẫn cát tình tình bất đoạn.
Lạc hồng loạn trục đông lưu thủy,
Nhất điểm phương tâm vị quân tử.
Thiếp thân nguyện tác Vu Sơn vân,
Phi nhập tiên lang mộng hồn lý.

Dịch nghĩa:

Lầu cao lớp lớp che trăng sáng,
Đau lòng vì suốt năm xa cách chàng.
Tiêu im sáo lặng không nghe tiếng,
Một mình ngồi buồn nhìn ra song cửa ngọc.
Cá lặn chim bay chân trời góc biển,
Biệt ly không được tin thư thật khổ.
Oán đầy giường ngà chăn phí thúy,
Giận bẻ gãy kim thoa phượng hoàng.
Giếng sâu ròng rọc than giây ngắn,
Ngày trôi chậm, xiêm y cũng nặng tương tư.
Dùng dao chém nước nước liền trở lại,
Cầm kéo cắt tình tình không chịu đứt.
Hồng rụng tơi bời theo dòng nước chảy về đông,
Một tấm tình son vì người mà tàn lụi.
Thiếp nguyện làm mây núi Vu (Sơn),
Bay nhập vào giấc mộng trong hồn chàng.

Dịch thơ:

Mảnh trăng thanh lầu cao che khuất
Lòng đau vì xa cách nhiều năm
Tiếng tiêu điệu sáo lặng im
Một mình buồn bã ngóng nhìn phương xa
Bên chân trời chim bay cá lặn
Mòn mỏi vì âm tín không về
Chiếu chăn hờn oán não nề
Kim thoa bẻ gãy lời thề còn đâu
Giếng nước sâu mà giây thì ngắn
Xiêm y buồn người chẳng điểm trang
Dùng dao chém nước nước liền
Kéo kia cắt đứt mối tình được không?
Theo dòng nước loạn hồng trôi mãi
Tấm tình em một phiến vì chàng
Xin làm mây núi Vu Sơn
Nhập sâu vào cõi mộng hồn người thương.
(Phan Lang Dịch)

Thơ Trung Quốc ý nghĩa hay về cuộc sống

Những bài thơ bất hủ chủ đề cuộc sống tiếng Trung từ trước đến nay luôn được nhiều bạn trẻ yêu thích đón nhận. Hãy tham khảo ngay một số bài thơ đặc sắc bằng tiếng Hoa ngay bên dưới.

1. 观田家 (Guān tiánjiā) / Quan Điền Gia (Tạm dịch: Quan sát nhà nông)

Đây là bài thơ 5 chữ mô tả cuộc sống của một gia đình nông dân thời xưa. Lời thơ giản dị, ít chạm khắc nhưng lại phơi bày được nỗi khổ nhân dân thời bấy giờ.

Bài thơ Quan Điền Gia hay bằng tiếng Trung
Thơ Quan Điền Gia

Tác giả: Vi Ứng Vật (韋應物 – Wéi Yìng Wù)

Tác phẩm:

微雨众卉新,
Wēi yǔ zhòng huì xīn,
一雷惊蛰始。
Yī léi jīngzhé shǐ.
田家几日闲?
Tiánjiā jǐ rì xián?
耕种从此始。
Gēngzhòng cóngcǐ shǐ.
丁壮俱在野,
Dīng zhuàng jù zàiyě,
场圃亦就理。
Chǎng pǔ yì jiù lǐ.
归来景常晏,
Guīlái jǐng cháng yàn,
饮犊西涧水。
Yǐn dú xī jiàn shuǐ.
饥劬不自苦,
Jī qú bù zì kǔ,
膏泽且为喜。
Gāo zé qiě wèi xǐ.
仓廪无宿储,
Cānglǐn wú sù chǔ,
徭役犹未已。
Yáoyì yóu wèi yǐ.
方惭不耕者,
Fāng cán bù gēng zhě,
禄食出闾里。
Lù shí chū lǘlǐ.

Hán Việt:

Vi vũ chúng huỷ tân,
Nhất lôi kinh trập thuỷ.
Điền gia kỷ nhật nhàn?
Canh chủng tòng thử thuỷ.
Đinh tráng câu tại dã,
Trường phố diệc tựu lý.
Qui lai cảnh thường yến,
Ẩm độc tây giản thuỷ.
Cơ cù bất tự khổ,
Cao trạch thả vi hỉ.
Thương lẫm vô túc trừ,
Dao dịch do vị dĩ.
Phương tàm bất canh giả,
Lộc thực xuất lư lý.

Dịch nghĩa:

Mưa nhỏ làm mọi loài cỏ nảy mầm mới,
Một cơn sấm chớp bắt đầu hiện tượng kinh trập.
Nhà nông được bao nhiêu ngày nhàn rỗi rồi?
Nay bắt đầu cày đất và gieo hạt theo ngay hiện tượng bắt đầu này.
Người lớn khỏe mạnh đều ra đồng,
Ruộng vườn đều được sửa sang.
Thường trở về nhà trễ khi nắng sắp tắt,
Bê, nghé uống nước nơi suối phía tây.
Không thấy khổ khi đói bụng hay mệt nhọc,
Chịu mưa ướt cho đất được thấm nhuần là điều vui mừng.
Trong vựa, đụn chẳng có thóc lúa gì cả,
Làm để trả thuế cho quan và tô cho chủ đất còn chưa đủ.
Thấy điều này mới thấy hổ thẹn cho kẻ không làm ruộng như ta,
Bổng lộc và cái ăn đều do làng xã cung ứng.

Dịch thơ:

Vừa mưa nhỏ cỏ mọc mầm ngay,
Sấm chớp bắt đầu kinh trập đây.
Ngày rỗi nhà nông đâu được mấy,
Đúng thời cày cấy giống liền tay.
Tráng trai khỏe mạnh ra đồng cả,
Vườn ruộng chăm lo cứ miệt mài.
Thường trở về nhà khi nắng tắt,
Nghé bê uống nước suối bờ tây.
Nhọc nhằn đói khát nào đâu quản,
Mưa ướt, đất nhuần cảm thấy vui.
Trong vựa đụn không còn thóc lúa,
Thuế tô chẳng đủ, khó khăn hoài.
Thẹn mình không mó việc điền tang,
Bổng lộc, miếng cơm nợ xóm làng.
(Nguồn: Thivien.net)

2.山居秋暝 (Shānjū qiū míng) / Sơn Cư Thu Minh

Sơn Cư Thu Minh là bài thơ mô tả cảnh đẹp của làng núi và những phong tục tập quán bình dị của người dân miền núi vào buổi tối sau cơn mưa đầu thu trong trẻo, mô phỏng tình yêu của tác giả đối với thiên nhiên, cảnh vật, làng quê và sự mãn nguyện khi sống ẩn nơi yên bình.

Tác giả: Vương Duy (王维 – Wáng Wéi)

Tác phẩm:

空山新雨后,
Kōngshān xīn yǔ hòu,
天气晚来秋。
Tiānqì wǎn lái qiū.
明月松间照,
Míngyuè sōng jiān zhào,
清泉石上流。
Qīngquán shí shàngliú.
竹喧归浣女,
Zhú xuān guī huàn nǚ,
莲动下渔舟。
Lián dòng xià yúzhōu.
随意春芳歇,
Suíyì chūnfāng xiē,
王孙自可留。
Wángsūn zì kě liú.

Hán Việt:

Không sơn tân vũ hậu,
Thiên khí vãn lai thu.
Minh nguyệt tùng gian chiếu,
Thanh tuyền thạch thượng lưu.
Trúc huyên quy hoán nữ,
Liên động há ngư chu.
Tùy ý xuân phương yết,
Vương tôn tự khả lưu.

Dịch nghĩa:

Ngọn núi vắng sau cơn mưa
Thời tiết ban đêm đã là thu rồi
Ánh trăng sáng chiếu qua rừng cây tùng
Suối nước xanh chảy trên đá
Nghe có tiếng trúc xào xạc mấy cô đi giặt áo về
Tiếng lá sen xao động có người hạ thuyền xuống
Tùy ý, hương xuân đã hết
Các vương tôn muốn ở lại thì tự nhiên.

Dịch thơ:

Núi vắng cơn mưa tan
Chiều thu bóng khuất tàn
Lá tùng trăng sáng rọi
Ghềnh đá suối xanh tràn.
Trúc vang hò thiếu nữ
Sen động tiếng thuyền nan
Tùy ý hương xuân tận
Vương tôn vẫn bàn hoàn.
(Nguồn: Thanh Vân Thi Tập)

3. 野老歌 (Yě lǎo gē) / Dã Lão Ca (Tạm dịch: Bài ca về lão nông dân)

Bài thơ với nội dung kể về một lão nông chịu áp lực nặng nề của sưu cao, thuế má, cuối cùng sống cuộc đời chỉ dựa vào hái quả ăn no, phơi bày cuộc sống nông dân của người nông dân dưới sự bóc lột của tô thuế trong khi giới doanh nhân giàu có lại sống phung phí xa hoa. Vạch trần tội ác của những thói hung hãn, hiếu chiến của giai cấp thống trị, đồng thời phản ánh chân thực thực chất của đời sống xã hội ngày xưa.

Bài thơ Dã Lão Ca bằng tiếng Trung
Thơ Dã Lão Ca hay tiếng Hoa

Tác giả: Trương Tịch (張籍 – Zhāng Jí), Thời gian Trung Đường (766-827).

Tác phẩm:

老农家贫在山住,耕种山田三四亩。
Lǎo nóngjiā pín zài shān zhù, gēngzhòng shāntián sānsì mǔ.
苗疏税多不得食,输入官仓化为土。
Miáo shū shuì duō bùdé shí, shūrù guān cāng huà wéi tǔ.
岁暮锄犁傍空室,呼儿登山收橡实。
Suìmù chú lí bàng kōng shì, hū er dēngshān shōu xiàng shí.
西江贾客珠百斛,船中养犬长食肉。
Xījiāng jiǎ kè zhū bǎi hú, chuán zhōng yǎng quǎn zhǎng shíròu.

Hán Việt:

Lão nông gia bần tại sơn trú,
Canh chủng sơn điền tam tứ mẫu.
Miêu sơ thuế đa bất đắc thực,
Thâu nhập quan thương hoá vi thổ.
Tuế mộ sừ lê bàng không thất,
Hô nhi đăng sơn thu tượng thực.
Tây Giang cổ khách châu bách hộc,
Thuyền trung dưỡng khuyển trường thực nhục.

Dịch nghĩa:

Ông lão nhà nghèo ở trong núi,
Cày cấy đất núi được ba bốn mẫu.
Lúa ít đóng thuế nhiều nên không có lúa để ăn,
Gom về kho quan để mốc thành đất.
Cuối năm, cày bừa để dựa góc nhà trống không,
Ông kêu con cháu lên núi hái hạt dẻ rừng về ăn.
Nhà buôn ở Tây Giang kho báu có cả trăm hộc,
Chó nuôi trên thương thuyền ngày nào cũng có thịt ăn.

Dịch thơ:

Ông lão nghèo nhà trong vùng núi
Cày cấy ba bốn mẫu đất hoang
Thuế nhiều không lúa để ăn
Gom về để mục kho quan dư thừa
Đến cuối năm cày bừa dựa vách
Hạt dẻ rừng tìm cách thay cơm
Nhà buôn châu báu cả trăm
Trên thuyền chó có thịt ăn hàng ngày.
(Nguồn: Thivien.net)

4. 山中寡妇 (Shānzhōng guǎfù) / Sơn Trung Quả Phụ (Tạm dịch: Người đàn bà góa chồng ở trong núi)

Bài thơ này phản ánh trải nghiệm bi thảm của nhân dân lao động dưới sự bóc lột, áp bức tàn khốc của giai cấp thống trị. Qua số phận bi thảm của một nhân vật điển hình như bà góa trên núi, cả bài thơ thấy được bộ mặt của xã hội bấy giờ, lời lẽ vô cùng xót xa, căm phẫn.

Tác giả: Đỗ Tuân Hạc (杜荀鶴 – Dù Xún Hè), thời Vãn Đường.

Tác phẩm:

夫因兵死守蓬茅,
Fū yīn bīng sǐshǒu péng máo,
麻苎衣衫鬓发焦。
Má zhù yīshān bìnfà jiāo.
桑柘废来犹纳税,
Sāng zhè fèi lái yóu nàshuì,
田园荒后尚征苗。
Tiányuán huāng hòu shàng zhēng miáo.
时挑野菜和根煮,
Shí tiāo yěcài hé gēn zhǔ,
旋斫生柴带叶烧。
Xuán zhuó shēng chái dài yè shāo.
任是深山更深处,
Rèn shì shēnshān gēngshēn chù,
也应无计避征徭。
Yě yīng wú jì bì zhēng yáo.

Hán Việt:

Phu nhân binh tử thủ bồng mao,
Ma trữ y sam mấn phát tiêu.
Tang giá phế lai do nạp thuế,
Điền viên hoang hậu thượng chinh miêu.
Thì khiêu dã thái hòa căn chử,
Toàn chước sinh sài đới diệp thiêu.
Nhậm thị thâm sơn canh thâm sứ,
Dã ưng vô kế tỵ chinh đao.

Dịch nghĩa:

Chồng chết trận, một mình giữ nếp nhà tranh
Áo bằng gai, đầu tóc vàng khè
Việc tằm tang bỏ hoang rồi, thuế vẫn phải nộp
Ruộng vườn không trồng trọt, còn bị đòi thuế thóc lúa
Bữa ăn thường hái rau dại nấu cả rễ
Thiếu củi, đem cành tươi vừa chặt được, để cả lá mà đốt
Dù vào tận núi sâu, càng sâu hơn nữa
Cũng không cách nào trốn khỏi đóng thuế đi phu.

Dịch thơ:

Chết chồng, bà giữ túp tranh khô
Quần áo đay gai, mái tóc thô
Dâu cửi bỏ không còn nạp thuế
Ruộng vườn để phế vẫn đòi tô
Rau đồng lẫn rễ cho qua bữa
Củi lá tươi nguyên cũng đốt lò
Dù ở rừng sâu nơi quạnh vắng
Phu phen thuế má cũng theo về.
(Nguồn: Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hóa, 1997)

5. 春中田园作 (Chūn zhōng tiányuán zuò) / Xuân Trung Điền Viên Tác (Tạm dịch: Giữa xuân ở ruộng vườn)

Bài thơ này viết về sự sung túc của mùa xuân và niềm vui hạnh phúc của người nông dân, bộc lộ một số đặc điểm của cuộc sống xã hội và nhân sinh quan của con người thời đầu nhà Đường, đồng thời thể hiện sự sâu sắc của tác giả đối với thiên nhiên.

Tác giả: Vương Duy (王维 – Wáng Wéi)

Tác phẩm:

屋上春鸠鸣,
Wūshàng chūn jiū míng,
村边杏花白。
Cūn biān xìng huā bái.
持斧伐远扬,
Chí fǔ fá yuǎnyáng,
荷锄觇泉脉。
Hè chú chān quán mài.
归燕识故巢,
Quī yàn shì gù cháo,
旧人看新历。
Jiù rén kàn xīn lì.
临觞忽不御,
Lín shāng hū bù yù,
惆怅远行客。
Chóuchàng yuǎn xíng kè.

Hán Việt:

Ốc thượng xuân cưu minh,
Thôn biên hạnh hoa bạch.
Trì phủ phạt viễn dương,
Hà sừ chiêm tuyền mạch.
Quy yến thức cố sào,
Cựu nhân khán tân lịch.
Lâm thương hốt bất ngự,
Trù trướng viễn hành khách.

Dịch nghĩa:

Chim xuân cưu kêu trên mái nhà,
Hoa hạnh trắng thông bên đang nở.
Cầm rìu chặt cành vươn xa,
Lấy cuốc khơi mạch suối.
Chim én bay về nhận ra tổ cũ của mình,
Người cũ xem lịch mới.
Cầm chung rượu trên tay nhưng không uống,
Xót thương người phương xa.

Dịch thơ:

Xuân cưu kêu mái nhà,
Hạnh trắng vườn đơm hoa.
Rìu chặt cành xa vướng,
Cuốc khai mạch suối ra.
Én về hay tổ cũ,
Lịch mới người xem qua.
Rót rượu mà chưa uống,
Nghĩ thương người chốn xa.
(Nguồn: Tuyển tập thơ Đường – Quyển I, NXB Văn Nghệ, 2009)

Tổng hợp bài thơ nổi tiếng, tiêu biểu Trung Quốc

1. 静夜思 (Jìng yè sī) / Tĩnh Dạ Tứ – Lý Bạch (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)

Bài thơ này miêu tả tâm trạng của nhà thơ khi nhìn lên trăng trong đình vào một đêm mùa thu. Các bài thơ sử dụng ẩn dụ, ẩn dụ và các thủ pháp khác để nói lên nỗi niềm nhớ nhà, câu thơ trong sáng, giản dị và sức quyến rũ vô hạn, luôn được truyền tụng rộng rãi.

Câu thơ Tĩnh Dạ sứ tiếng Trung
Thơ hay Tĩnh Dạ sứ

Tác phẩm:

床前明月光,
Chuáng qián míng yuè guāng,
疑是地上霜。
Yí shì dì shàng shuāng.
举头望明月,
Jǔ tóu wàng míng yuè,
低头思故乡。
Dī tóu sī gù xiāng.

Hán Việt:

Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.

Dịch thơ:

Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
(Tương Như dịch)

2. 关雎 (Guān jū) / Quan thư: Thuộc Thư Kinh – bộ thơ ca đầu tiên của Trung Quốc)

Quan Thư là một bản tình ca miêu tả tình yêu nam nữ. Với lòi thơ đẹp, sử dụng âm đôi và lặp từ tốt, làm tăng vẻ đẹp âm vị của bài thơ và sự sinh động của văn nhân vật và từ tượng thanh.

Tác phẩm:

关关雎鸠、
Guān guān jū jiū,
在河之洲。
Zài hé zhī zhōu.
窈窕淑女、
Yǎotiǎo shūnǚ,
君子好逑。
Jūnzǐ hǎo qiú.

Hán Việt:

Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu.

Dịch nghĩa:

Đôi chim thư cưu hót hoạ nghe quan quan,
Ở trên cồn bên sông.
Người thục nữ u nhàn,
Phải là lứa tốt của bậc quân tử (vua).

Dịch thơ:

Chim thư cưu họa tiếng
Hót trên cồn bãi sông
Như cô gái dịu hiền
Sánh đẹp đôi quân tử.
(Hoàng Nguyên Chương dịch)

3. 春望 (Chūn wàng) / Xuân Vọng – Đỗ Phủ

Bốn dòng đầu của bài thơ này miêu tả khung cảnh khốn khổ và đổ nát của Trường An vào mùa xuân trong sự hưng thịnh và suy tàn. Bốn dòng cuối của bài thơ viết về tình yêu của nhà thơ đối với thân nhân và quốc sự đầy nỗi buồn.

Tác phẩm:

国破山河在,
Guó pò shānhé zài,
城春草木深。
Chéng chūn cǎomù shēn.
感时花溅泪,
Gǎn shí huā jiàn lèi,
恨别鸟惊心。
Hèn bié niǎo jīng xīn.
烽火连三月,
Fēnghuǒ lián sān yuè,
家书抵万金。
Jiāshū dǐ wàn jīn.
白头搔更短,
Báitóu sāo gèng duǎn,
浑欲不胜簪。
Hún yù bùshèng zān.

Hán Việt:

Quốc phá sơn hà tại,
Cảm thì hoa tiễn lệ,
Hận biệt điểu kinh tâm.
Phong hỏa liên tam nguyệt,
Gia thư để vạn kim.
Bạch đầu tao cánh đoản,
Hồn dục bất thắng trâm.

Dịch nghĩa:

Nước phá tan, núi sông còn đó,
Đầy thành xuân cây cỏ rậm sâu.
Cảm thời hoa rỏ dòng châu
Biệt ly tủi giận, chim đau nỗi lòng.
Ba tháng khói lửa ròng không ngớt,
Bức thư nhà, giá đắt bạc muôn.
Gãi đầu tóc bạc ngắn ngun,
Dường như hết thảy, e khôn búi tròn.
(Trần Trọng Kim dịch)

Dịch thơ:

Nước mất nhà tan còn sông núi,
Xuân thành cây cỏ mọc thâm u.
Nhìn hoa hoang dại sầu rơi lệ,
Chim kêu hoảng sợ hận biệt ly.
Khói lửa binh đao liền ba tháng,
Thư nhà nhận được đáng vạn ngân.
Tóc bạc như sương càng thưa thớt,
E không đủ búi để cài trâm.
(Trương Văn Tú (Lãng Nhai) dịch)

4. 黄鹤楼 (Huáng hè lóu) / Hoàng Hạc Lâu – Thôi Hiệu

Bài thơ này mô tả cảnh đẹp nhìn ra tháp Hạc vàng và là một kiệt tác của hoài niệm về quá khứ, tháp Hạc vàng đã trải qua hàng nghìn năm. Trong bài có nét thơ mộng đi vào tả cảnh, viết về khung cảnh nhìn thấy ở tháp Hạc vàng vào một ngày nắng đẹp. Từ đó bộc lộ rõ cảm giác khi hoàng hôn trở về, sông Diên Ba trở về cõi vô hình thuở ban đầu.

Tác phẩm:

昔人已乘黄鹤去,
Xī rén yǐ chéng huáng hè qù,
此地空余黄鹤楼。
Cǐ dì kōng yú huáng hè lóu.
黄鹤一去不复返,
Huáng hè yī qù bù fù fǎn,
白云千载空悠悠。
Bái yún qiān zài kōng yōu yōu.
晴川历历汉阳树,
Qíng chuān lì lì hàn yáng shù,
芳草萋萋鹦鹉洲。
Fāng cǎo qī qī yīng wǔ zhōu.
日暮乡关何处是,
Rì mù xiāng guān hé chǔ shì,
烟波江上使人愁。
Yān bō jiāng shàng shǐ rén chóu.

Hán Việt:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Dịch thơ:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
(Tản Đà dịch)

5. 月夜 (Yuè yè) / Nguyệt Dạ – Đỗ Phủ

Bài thơ này biểu hiện những suy nghĩ của người vợ đối với bản thân mình và cũng biết được những tâm lí người yêu mình.

Tác phẩm:

今夜鄜州月,
Jīn yè fū zhōu yuè,
闺中只独看。
Guī zhōng zhǐ dú kàn.
遥怜小儿女,
Yáo lián xiǎo ér nǚ,
未解忆长安。
Wèi jiě yì cháng ān.
香雾云鬟湿,
Xiāng wù yún huán shī,
清辉玉臂寒。
Qīng huī yù bì hán.
何时倚虚幌,
Hé shí yǐ xū huǎng,
双照泪痕干。
Shuāng zhào lèi hén gān.

Hán Việt:

Kim dạ Phu Châu nguyệt,
Khuê trung chỉ độc khan.
Dao liên tiểu nhi nữ,
Vị giải ức Trường An.
Hương vụ vân hoàn thấp,
Thanh huy ngọc tý hàn.
Hà thì ỷ hư hoảng,
Song chiếu lệ ngân can.

Dịch thơ:

Châu Phu này lúc trăng soi,
Buồng the đêm vắng riêng coi một mình.
Đoái thương thơ dại đầu xanh,
Tràng An chưa biết mang tình nhớ nhau.
Sương sa thơm ướt mái đầu,
Cánh tay ngọc trắng lạnh màu sáng trong.
Bao giờ tựa bức màn không,
Gương soi chung bóng lệ dòng dòng khô.
(Tản Đà dịch)

6. 思归 (sī guī) / Tư Quy – Vương Bột

Bài thơ diễn tả nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương da diết của tác giả. Nỗi nhớ quê hương là tình cảm chung muôn thuở của loài người. Dù là người lang thang, cơ nhỡ, người vô gia cư, người nhập cư thì xa quê đều sẽ nhớ quê nhà da diết.

Tác phẩm:

长江悲已滞,
Chángjiāng bēi yǐ zhì,
万里念将归。
Wànlǐ niàn jiāng guī.
况属高风晚,
Kuàng shǔ gāo fēng wǎn,
山山黄叶飞。
Shān shān huángyèfēi.

Hán Việt:

Trường Giang bi dĩ trệ,
Vạn lý niệm tương quy.
Huống thuộc cao phong vãn,
Sơn sơn hoàng diệp phi.

Dịch nghĩa:

Nỗi thương đau đã lắng đọng trên sông Trường Giang,
Ở nơi xa muôn dặm mong nhớ lúc trở về.
Huống hồ đương lúc cuối thu,
Lá vàng tung bay trên núi non trùng điệp.

Dịch thơ:

Trường Giang sầu lắng trong lòng,
Đường xa muôn dặm nhớ mong ngày về.
Chiều buông gió lộng lê thê,
Lá vàng quanh núi bốn bề tung bay.
(Hải Đà dịch)

Những câu thơ đối hay bằng tiếng Trung

Trung Quốc từ truyền thống xa xưa đã luôn có tục lệ đối thơ qua lại, đây là phong tục tập quán nổi bật và có rất nhiều câu thơ đối được ghi chép lại và lưu truyền mãi cho đến hiện nay.

Những câu thơ đối hay trong tiếng Trung
Thơ tiếng Trung đối hay

Câu đối:

碧 沼 芰 荷 开 并 帝。
Bì zhǎo jì hé kāi bìng dì.
绣 帏 鸾 凤 结 同 心。
Xiù wéi luánfèng jié tóngxīn.

Hán Việt:

Bích chiểu kỳ hà khai tịnh đế.
Tú vi loan phượng kết đồng tâm.

Dịch nghĩa:

Ao biếc súng sen chung rễ nở.
Màn thêu loan phượng kết đồng tâm.

Câu đối:

莲 花 影 入 水 晶 镜。
Liánhuā yǐng rù shuǐjīng jìng.
竹 叶 香 浮 鹦 鹉 杯。
Zhú yè xiāng fú yīngwǔ bēi.

Hán Việt:

Liên hoa ảnh nhập thuỷ tinh kính.
Trúc diệp hương phù anh vũ bôi.

Dịch nghĩa:

Gương thuỷ tinh thấy ảnh hoa sen.
Chén anh vũ toả hương lá trúc.

Câu đối:

池 上 绿 荷 挥 彩 笔。
Chíshàng lǜ hé huī cǎi bǐ.
天 边 朗 月 偃 新 眉。
tiānbiān lǎng yuè yǎn xīn méi.

Hán Việt:

Trì thượng lục hà huy thái bút.
Thiên biên lãng nguyệt yển tân my.

Dịch nghĩa:

Sen biếc trên cao thêm hứng bút.
Bên trời trăng sáng đọng hàng mi.

Câu đối:

琴 瑟 哺 和 刚 四 月。
Qínsè bǔ hé gāng sì yuè.
熊 罴 入 梦 喜 三 更。
Xióng pí rùmèng xǐ sān gèng.

Hán Việt:

Cầm sắt bổ hoà cương tứ nguyệt.
Hùng bi nhập mộng hỷ tam canh.

Dịch nghĩa:

Mới tháng tư cầm sắt hài hoà.
Mừng ba canh hùng bi vào mộng.

Câu đối:

梅 雨 云 周 联 好 友。
Méiyǔ yún zhōu lián hǎoyǒu.
榴 花 伊 始 映 新 妆。
Liú huā yīshǐ yìng xīn zhuāng.

Hán Việt:

Mai vũ vân chu liên hảo hữu.
Lựu hoa y thuỷ ánh tân trang.

Dịch nghĩa:

Bên bạn tốt mưa mai mây cuốn.
Đẹp tân trang hoa lựu giống xưa.

Câu đối:

书 叶 草 从 窗 外 绿。
Shū yè cǎo cóng chuāngwài lǜ.
芙 蓉 花 向 座 中 红。
Fúróng huā xiàng zuò zhōng hóng.

Hán Việt:

Thư đới thảo tòng song ngoại lục.
Phù dung hoa hướng toạ trung hồng.

Dịch nghĩa:

Sách mang cỏ đến ngoài song biếc.
Phù dung hoa hướng khách khoe hồng.

Câu đối:

春 色 映 摇 台 一 曲 紫 萧 飞 彩 凤。
Chūnsè yìng yáo tái yī qū zǐ xiāofēicǎi fèng huìfēng.
惠 风 清 宝 瑟 数 行 锦 字 篆 青 虬。
Qīng bǎo sè shù xíng jǐn zì zhuàn qīng qiú.

Hán Việt:

Xuân ánh dao đài nhất khúc tử tiêu phi thái phượng.
Huệ phong thanh bảo sắt sổ hàng cẩm tự triện thanh cù.

Dịch nghĩa:

Xuân sắc chiếu dao đài, một khúc tiêu hay vời phượng đẹp.
Gió thơm trong tiếng sắt, vài hàng chữ gấm gửi rồng xanh.

Câu đối:

烛 花 喜 并 榴 花 艳。
Zhú huā xǐ bìng liú huā yàn.
蒲 酒 欣 莲 巹 酒 斟。
Pú jiǔ xīn lián jǐn jiǔ zhēn.

Hán Việt:

Chúc hoa hỷ tịnh lựu hoa diệm.
Bồ tửu hân liên cẩn tửu châm.

Dịch nghĩa:

Hoa đuốc kề bên hoa lựu đẹp.
Rượu nho cùng với rượu cẩn mời.

Câu đối:

蒲 酒 流 馨 连 巹 酒。
Pú jiǔ liú xīn lián jǐn jiǔ.
烛 花 绚 彩 映 榴 花。
Zhú huā xuàn cǎi yìng liú huā.

Hán Việt:

Bồ tửu lưu hinh liên cẩn tửu.
Chúc hoa huyền thái ánh lựu hoa.

Dịch nghĩa:

Rượu nho cùng rượu cẩn thơm ngát.
Hoa đuốc bên hoa lựu rực màu.

Câu đối:

菡 萏 枝 连 谐 绣 幕。
Hàn dàn zhī lián xié xiù mù.
鸳 鸯 翼 比 媚 将 台。
Yuānyāng yì bǐ mèi jiāng tái.

Hán Việt:

Hạm đạm chi liên hài tú mạc.
Uyên ương dực tỵ mỵ tương đài.

Dịch nghĩa:

Hoa sen chung rễ hợp rèm thêu.
Uyên ương chắp cánh nổi đài đẹp.

Câu đối:

巹 酒 香 浮 蒲 酒 绿。
Jǐn jiǔ xiāng fú pú jiǔ lǜ.
榴 花 艳 映 烛 花 红。
Liú huā yàn yìng zhú huāhóng.

Hán Việt:

Cẩn tửu hương phù bồ tửu lục.
Lựu hoa diễm ánh chúc hoa hồng.

Dịch nghĩa:

Rượu nho thơm giúp hương rượu cẩn.
Hoa lựu đẹp nhờ đuốc hoa hồng.

Câu đối:

杯 斟 暑 日 飞 鹦 鹉。
Bēi zhēn shǔ rì fēi yīngwǔ.
曲 奏 薰 风 引 凤 凰。
Qū zòu xūn fēng yǐn fènghuáng.

Hán Việt:

Bôi châm thử nhật phi anh vũ.
Khúc tấu huân phong dẫn phượng hoàng.

Dịch nghĩa:

Rượu mời ngày nóng anh vũ bay.
Khúc tấu nồm nam phượng hoàng lại.

Câu đối:

乐 奏 函 钟 谐 凤 侣。
Lè zòu hán zhōng xié fèng lǚ.
诗 歌 南 国 叶 螽 斯。
Shīgē nánguó yè zhōng sī.

Hán Việt:
Nhạc tấu hàm chung hài phượng lữ.
Thi ca nam quốc diệp chung tư.

Dịch nghĩa:

Nhạc tấu hàm chung vui bầy phượng.
Thơ ca nam quốc lá chung tư.

Câu đối:

盛 世 长 青 树。
Shèngshì cháng qīngshù.
百 年 不 老 松。
Bǎinián bù lǎosōng.

Hán Việt:

Thịnh thế trường thanh thụ.
Bách niên bất lão tùng.

Dịch nghĩa:

Đời thịnh cây xanh mãi.
Trăm năm tùng chẳng già.

Câu đối:

寿 同 山 峦 老。
Shòu tóng shānluán lǎo.
福 共 海 天 长。
Fú gòng hǎitiān zhǎng.

Hán Việt:

Thọ đồng sơn loan lão.
Phúc cộng hải thiên trường.

Dịch nghĩa:

Thọ lâu cùng núi bọc.
Phúc dài với biển trời.

Câu đối:

福 如 东 海 长 流 水。
Fú rú dōnghǎi cháng liúshuǐ.
寿 比 南 山 不 老 松。
Shòu bǐ nánshān bù lǎosōng.

Hán Việt:

Phúc như đông hải trường lưu thuỷ.
Thọ tỷ nam sơn bất lão tùng.

Dịch nghĩa:

Phúc tựa biển đông, dòng chảy mãi.
Thọ ví non nam, tùng không già.

Câu đối:

凤 凰 枝 上 花 如 锦。
Fènghuáng zhī shàng huā rú jǐn.
松 菊 堂 中 人 并 年。
Sōng jú táng zhōng rén bìng nián.

Hán Việt:

Phượng hoàng chi thượng hoa như cẩm.
Tùng cúc đường trung nhân tịnh niên.

Dịch nghĩa:

Trên cành hoa gấm Phượng Hoàng đậu.
Trong nhà người thọ cúc tùng xanh.

Câu đối:

年 享 高 龄 椿 萱 并 茂。
Nián xiǎng gāolíng chūn xuān bìngmào.
时 逢 盛 世 兰 桂 齐 芳。
Shí féng shèngshì lán guì qí fāng.

Hán Việt:

Niên hưởng cao linh xuân huyên tịnh mậu.
Thời phùng thịnh thế lan quế tế phương.

Dịch nghĩa:

Trời cho tuổi thọ, xuân huyên đều tốt.
Gặp thời thịnh trị, lan quế cùng thơm.

Câu đối:

磻 桃 捧 日 三 千 岁。
Pán táo pěng rì sānqiān suì
古 柏 参 天 四 十 围。
Gǔ bǎi cāntiān sìshí wéi.

Hán Việt:

Bàn đào bổng nhật tam thiên tuế.
Cổ bách tham thiên tứ thập vi.

Dịch nghĩa:

Bàn đào ngày hội, ba ngàn năm.
Bách cổ ngất trời, bốn chục tuổi.

Đây là những bài thơ và câu đối hay bằng tiếng Trung mà chúng tôi sưu tầm và tổng hợp, hy vọng chúng sẽ giúp ích cho các bạn. Cảm ơn các bạn đã dành thời gian xem tài liệu của chúng tôi.

Xin hãy liên hệ trung tâm Hoa ngữ Tầm Nhìn Việt ngay để biết thêm các khóa học từ cơ bản tới nâng cao nhé!

Scroll to Top